한국어

동남아, 국제협력 지지율 세계 최고…“미·중 패권 주도는 모두 거부”

록펠러재단의 34개국 조사에서 동남아는 국제협력이 효과적으로 작동하고 있다는 평가가 높은 지역으로 나타났다. 미국과 중국 가운데 어느 쪽을 더 위협적으로 보는지는 국가마다 달랐다. 기사는 이러한 차이를 친미·친중의 구분으로 단순화하기보다, 강대국과 협력하면서도 독자적인 선택권을 확보하려는 움직임으로 읽을 필요가 있다고 짚었다.

Đông Nam Á đánh giá tích cực về hợp tác quốc tế, nhưng vẫn tìm kiếm quyền tự chủ giữa Mỹ và Trung Quốc

Khảo sát tại 34 quốc gia của Quỹ Rockefeller cho thấy Đông Nam Á nằm trong nhóm khu vực đánh giá tích cực về hiệu quả của hợp tác quốc tế. Nhận thức về mối đe dọa từ Mỹ và Trung Quốc khác nhau giữa ba nước. Bài báo cho rằng cần nhìn những khác biệt ấy trong nỗ lực duy trì quyền tự quyết khi hợp tác với các cường quốc, thay vì đơn giản chia khu vực thành hai nhóm thân Mỹ và thân Trung Quốc.

기사 원문보기 / Xem bài gốc

Hanoian’s Comment

국제협력은 원하지만 강대국이 이끄는 질서는 불편하다. 얼핏 모순처럼 들리지만, 이 기사를 읽으며 생각해볼 대목은 바로 그 두 태도가 어떻게 함께 성립하느냐다. 무역과 투자가 필요하고, 바닷길도 안전해야 한다. 그렇다고 그 조건을 제공하는 나라가 자국의 외교적 선택까지 결정하도록 맡기고 싶은 것은 아니다. 협력을 통해 얻고 싶은 것이 많을수록, 상대가 내걸 조건에도 민감해질 수 있다.

기사에 나온 인도네시아와 필리핀의 위협 인식 차이도 그런 점에서 읽을 필요가 있다. 어느 나라가 더 위협적이냐는 답변은 그 나라와의 모든 관계를 끊고 싶다는 뜻까지 담고 있지 않다. 중국의 안보 행동을 우려하면서 중국과 거래할 수 있고, 미국의 정책을 비판하면서도 미국의 안보 역할을 필요로 할 수 있다. 위협에 대한 판단, 경제적 필요, 바람직한 국제질서에 대한 생각은 서로 다른 질문이다. 이 답들을 한데 모아 ‘결국 어느 편인가’만 묻는다면 각국이 무엇을 얻고 무엇을 피하려는지 놓치기 쉽다.

‘전략적 자율성’이라는 말도 그래서 구체적으로 읽어야 한다. 모든 사안에서 미·중의 정확한 중간에 서겠다는 뜻으로 받아들이면 설명되지 않는 행동이 너무 많다. 안보에서는 한 나라와 더 긴밀하게 협력하면서, 무역에서는 다른 파트너를 늘리는 선택도 가능하다. 중요한 것은 한 번의 선택이 다른 분야의 선택까지 모두 묶어버리지 않도록 하는 능력이다. 아세안이 2019년 채택한 인도·태평양 구상에서 협력과 포용을 앞세운 것도 이런 문제의식과 연결해 읽을 수 있다.

여기서 여론과 정부의 정책은 한 번 더 구분해야 한다. 시민이 미국이나 중국을 위협으로 꼽았다고 해서 곧바로 동맹이나 무역정책이 바뀌는 것은 아니다. 이번 조사에 베트남은 포함되지 않았으므로 이를 베트남 국민의 생각으로 옮겨 읽을 수도 없다. 다만 조사 결과는 외교의 성과를 설명할 때 협력의 이익뿐 아니라 그 과정에서 무엇을 내줘야 하는지까지 살펴볼 이유를 제공한다. 정부끼리 가까워졌다는 발표와 시민이 안심할 수 있는 관계 사이에는 간격이 있을 수 있다.

한국이 생각해볼 부분도 여기에 있다. 동남아와 협력을 넓히겠다면 한국을 선택할 경우 상대의 선택지가 실제로 얼마나 늘어나는지 물어야 한다. 예컨대 특정국의 공급 중단에도 버틸 수 있는 조달처를 만들거나, 상대국 기업이 기술을 익혀 다음 사업을 스스로 맡을 수 있게 하는 협력이 가능하다. 이는 이번 조사가 입증한 효과가 아니라, 전략적 자율성을 협력 사업으로 옮긴다면 검토할 방향이다. 공동성명의 우호적인 표현보다 중요한 것은 관계가 어려워졌을 때에도 상대에게 남는 역량일 것이다.

Hanoian’s Comment — Tiếng Việt

Muốn hợp tác quốc tế nhưng không thoải mái với một trật tự do cường quốc dẫn dắt: hai thái độ ấy nghe có vẻ mâu thuẫn. Nhưng điều đáng suy nghĩ trong bài này là vì sao chúng có thể tồn tại cùng nhau. Các nước cần thương mại, đầu tư và tuyến hàng hải an toàn. Điều đó không có nghĩa họ muốn giao quyền quyết định chính sách đối ngoại của mình cho nước cung cấp những lợi ích ấy. Càng cần hợp tác, họ càng có lý do để cân nhắc các điều kiện đi kèm.

Sự khác biệt giữa Indonesia và Philippines trong nhận thức về mối đe dọa cũng cần được đọc theo cách đó. Coi một quốc gia là mối đe dọa không đồng nghĩa với mong muốn cắt đứt mọi quan hệ với quốc gia ấy. Một nước có thể lo ngại hành động của Trung Quốc trong lĩnh vực an ninh nhưng vẫn giao thương với Trung Quốc; có thể phê phán chính sách của Mỹ nhưng vẫn cần vai trò an ninh của Mỹ. Nhận thức về mối đe dọa, nhu cầu kinh tế và hình dung về trật tự quốc tế là những vấn đề khác nhau. Nếu gom tất cả vào câu hỏi “rốt cuộc đứng về bên nào”, ta dễ bỏ qua điều mỗi nước muốn đạt được và muốn tránh.

Vì thế, khái niệm “tự chủ chiến lược” cần được nhìn qua những lựa chọn cụ thể. Hiểu nó là đứng đúng giữa Mỹ và Trung Quốc trong mọi vấn đề sẽ khiến nhiều hành động trở nên khó giải thích. Một nước có thể hợp tác an ninh chặt chẽ hơn với một bên, đồng thời mở rộng các đối tác thương mại khác. Điều quan trọng là tránh để một lựa chọn ràng buộc mọi lựa chọn còn lại. Việc ASEAN nhấn mạnh hợp tác và tính bao trùm trong Quan điểm ASEAN về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương năm 2019 có thể được nhìn từ góc độ này.

Dư luận và chính sách của chính phủ cũng cần được phân biệt. Việc người dân coi Mỹ hay Trung Quốc là mối đe dọa không tự động dẫn đến thay đổi trong quan hệ đồng minh hoặc chính sách thương mại. Việt Nam không nằm trong khảo sát lần này, nên không thể dùng kết quả ấy để kết luận về quan điểm của người Việt Nam. Tuy vậy, khảo sát gợi ra một câu hỏi đáng theo dõi: ngoài lợi ích nhận được, mỗi nước phải chấp nhận những ràng buộc nào khi hợp tác? Tuyên bố quan hệ gần gũi giữa các chính phủ chưa chắc đã đủ để người dân cảm thấy yên tâm.

Từ góc nhìn Hàn Quốc, vấn đề là liệu hợp tác với Seoul có thực sự mở rộng lựa chọn cho đối tác Đông Nam Á hay không. Chẳng hạn, hợp tác có thể giúp đa dạng hóa nguồn cung để giảm tổn thương khi một nguồn bị gián đoạn, hoặc giúp doanh nghiệp đối tác làm chủ kỹ thuật để tự đảm nhận dự án tiếp theo. Đây là những hướng cần xem xét khi đưa khái niệm tự chủ chiến lược vào các chương trình cụ thể, không phải hiệu quả đã được khảo sát này chứng minh. Ngoài những lời lẽ hữu nghị trong tuyên bố chung, điều đáng quan tâm là năng lực mà đối tác vẫn giữ được ngay cả khi quan hệ gặp khó khăn.

답글 남기기

이메일 주소는 공개되지 않습니다. 필수 필드는 *로 표시됩니다